Ngộ Phật

Chương 95: Vô Cực đạo quán

EM MÌNH ĐẸP TRAI THẬT

Lúc Giang Trừng rời núi, Hạc Kinh Hàn đã đứng chờ ở gần con ngõ rồi. Cô không đi một mình mà xuống cùng tiểu hoà thượng Thù Vọng. Từ năm mười lăm tuổi, Thù Vọng chốc chốc lại rời núi chu du lịch luyện, tăng sư chùa Thượng Vân đều thế cả, dẫu cậu có mù cũng không ngoại lệ.

Hạc Kinh Hàn từng gặp Thù Vọng nhưng không thân thiết gì, có thể chào nhau một tiếng đã không tệ, song lần này có mặt Giang Trừng, hai người lại “được” lôi ra giới thiệu một phen.

Giang Trừng: “Đây là Thù Vọng, đệ tử duy nhất của Thanh Đăng đại sư, tiểu Tầm chắc biết mà nhỉ. Năm ấy chị mới tới, nhóc Thù Vọng còn bé tý mà đã rất ngoan, cứ chăm sóc chị luôn. May nhờ có Thù Vọng chứ không chị đã chẳng quen với nơi này nhanh như thế.”

Hạc Kinh Hàn vừa nghe đã nghiêm túc tạ ơn Thù Vọng, tuy mặt mũi chẳng thấy nét cảm kích đâu. Song Thù Vọng không thấy được trái lại còn nhạy bén hơn, cậu nhận ra vẻ trịnh trọng của Hạc Kinh Hàn, chợt nghi ngờ thái độ của vị “con trời” này. Hơi khác với thái độ của lần gặp trước, tuy không đến nỗi thất lễ nhưng có cảm giác xa cách. Ngờ thì ngờ, Thù Vọng vẫn trả lễ Hạc Kinh Hàn.

Giang Trừng lại giới thiệu em trai mình với Thù Vọng, “Đây là Hạc Kinh Hàn, chắc em cũng biết rồi, trước đấy còn đến làm khách chùa Thượng Vân bọn em mà. Cậu ấy là người thân thiết nhất với chị ở thế giới này, chị mới tìm thấy và nhận mặt đây thôi, sắp tới sẽ đến thăm nhà cậu ấy.”

“Ra vậy, Hạc đạo hữu là người thân mà Giang Trừng tỷ tỷ vẫn luôn nhớ thương chăng? Thảo nào em thấy Giang Trừng tỷ tỷ đến thăm chuyến này lại vui nhường vậy, chúc mừng chị.” Tiểu Thù Vọng dẫu đã lớn vẫn dịu ngoan như cũ, khá giống với thỏ trắng Giang Tầm em trai cô ở thế giới cũ.

Hạc Kinh Hàn bớt lạnh lùng hơn, nhìn thoáng qua chị gái đang cười khì nhà mình, trò chuyện thêm đôi câu với Thù Vọng rồi cáo từ. Thù Vọng lên đường đến nơi đã định để lịch luyện, Giang Trừng và Hạc Kinh Hàn thì về đạo quán Vô Cực.

Lúc chỉ còn hai chị em, Hạc Kinh Hàn mới thu lại toàn bộ khí thế, dịu dàng hơn thường ngày nhiều, hắn hỏi: “Tình hình thế nào ạ?”

“Ổn lắm, chị đã bảo Thanh Đăng đại sư là một người rất tốt mà ~” Giang Trừng đáp, “À đại sư bảo bé con không sao, chị còn hỏi vụ bé nuốt yêu đan, chàng bảo là do ma chủng cả. Bé còn nhỏ, nuốt yêu đan xong có vẻ hơi khó chịu, cơ mà đại sư giải quyết hộ chị rồi, trong hoạ có phúc, sau này con bé sẽ dễ vận linh lực hơn, có lẽ linh căn cũng bị ảnh hưởng một tý, hơi nghiêng về hệ hoả của dơi hút máu.”

Vốn định nhờ Tạ nhị sư bá khám cho, song ông lại hay càu nhàu lắng lo, Giang Trừng chắc mẩm ông mà biết tình hình thì cô đừng hòng đi đâu, thể nào cũng bị cấm cửa ở Dung Trần đến khi sinh xong, lại còn bị ép uống thuốc bổ hằng ngày như đồ đệ Phong Hữu Chỉ từng kể nữa. Thế là cô đổi ý, chỉ ôm mớ thuốc chỗ nhị sư huynh rời nhà.

Sau đấy cô định đến khám chỗ sư muội chuyên điều chế thuốc của Hạc Kinh Hàn ở Vô Cực đạo quán, nhưng giữa chừng lại ghé chùa Thượng Vân, Giang Trừng quen lối bèn tâm sự với đại sư, ngờ đâu chàng lại biết nguyên do và cả cách giải quyết vấn đề, không hổ danh đàn ông sống hơn hai trăm mùa quít, cực kỳ đáng tin, cho cái like.

Biết sức khoẻ chị mình ổn hơn một chút, dù Hạc Kinh Hàn không thích Thanh Đăng đại sư cho lắm thì bấy cũng phải thầm cảm tạ chàng một phen.

“Mấy món này, chị cầm đi.” Hạc Kinh Hàn đưa một chiếc túi trữ vật cho Giang Trừng.

Giang Trừng đón túi mở xem, thấy toàn là linh dược linh dịch cao cấp, “Đây là gì? Ngoài chợ chưa thấy bao giờ.”

“Đây là linh dược của Phức Dược tông.” Hạc Kinh Hàn đáp.

Giang Trừng biết Phức Dược tông, tuy không bằng Dung Trần song vẫn là một đại phái nổi danh, khoảng cách từ đây đến đó cũng cỡ từ đây đến biển Vô Tận. Nghĩa là em trai đã đi xa thế chỉ để bốc thuốc cho mình ấy hả? Phức Dược tông lại còn nức tiếng về điều chế thuốc, thuốc tốt khó cầu, không biết nó đi chuyến này có bị khó dễ gì không.

Giang Trừng nhận thuốc, cảm động nhìn em, hỏi: “Nghe bảo thuốc này khó lấy lắm?”

Hạc Kinh Hàn lắc đầu: “Lần đầu nên em không rõ, nhưng không khó đâu, hỏi thử một đệ tử vừa bắt gặp xem có mấy đầu thuốc này không, cô ta bán ngay cho em mà.”

Giang Trừng như vỡ ra điều gì, hỏi: “Lúc gặp em, có phải vị nữ đệ tử đó vô cùng kích động, không chỉ lén ngắm em mà còn đỏ mặt nữa không?”

Hạc Kinh Hàn: “Không chú ý lắm, nhưng cô ta không nhận linh thạch của em.” Song dẫu người ta không cầm, hắn lại chẳng hứng thú hàn huyên, nên trả thì trả đủ, xong chuyện đi ngay.

Giang Trừng: Rồi hiểu, em trai mình là nam thần quốc dân, chắc vừa khéo đụng phải fangirl rồi.

Là một tu sĩ có sức ảnh hưởng nhất trong giới thanh thiếu niên kiêm biểu tượng tu đạo của giới tu chân hiện nay, tốc độ tu luyện của Hạc Kinh Hàn hồ như có thể bắt kịp Thanh Đăng đại sư của chùa Thượng Vân – thiên tài vạn năm có một. Hơn thế nữa, với thân phận đệ tử thủ tịch thế hệ mới của đạo quán Vô Cực xứng danh “nhất đạo nhất tự” toàn cõi này, Hạc Kinh Hàn nổi tiếng hơn đám hoà thượng khiêm tốn chẳng màng điều chi của chùa Thượng Vân nhiều.

Đầu tiên, hắn thường ra ngoài đánh quái, gần như đứng đầu mọi bảng quái cao cấp, tô đậm thêm cái chất cuồng chiến đấu, bỏ xa tất cả khiến ai nấy phải dõi mắt trông theo. Kế đến, hắn đẹp trai vô cùng, xuất chúng ngay cả ở cõi tu chân đầy mỹ nhân này, chẳng những đẹp mà khí chất cũng ưu tú, đây đâu còn là chuyện một cộng một bằng hai nữa.

Không những đẹp có chống lưng có năng lực có phẩm cách, lại còn giàu, đánh quái nhiều thì lắm của, chỉ tính mớ linh thạch treo giá trên bảng quái cao cấp đếm mãi không hết kia thôi đã vậy, chưa kể mấy món tông môn thưởng cho. Hiếm thấy nhất là hắn lại giữ mình sạch sẽ, chẳng nam nữ tu nào có thể lọt vào mắt xanh, xét trên một số khía cạnh nào đấy, cái kiểu sen trên núi tuyết cao ngạo lạnh lùng này quả rất thu hút.

Người hâm mộ khác môn phái đã nhiều thế thì càng khỏi kể tới Vô Cực đạo quán nhà hắn rồi. Giang Trừng đã mục kích rất rõ chuyện này sau khi đến nơi. Ở Vô Cực đạo quán, Hạc Kinh Hàn nổi tiếng một cách đáng sợ.

Nếu ví một nơi trước nay không ưa thị phi, chỉ quan tâm chúng sanh thiên hạ như chùa Thượng Vân là kim chỉ nam công bằng vô tư nhất, thì đạo quán Vô Cực chính là thanh kiếm sắc bén nhất của cõi tu chân, xưa giờ luôn dẫn đầu trong sự nghiệp diệt yêu trừ ma.

Khác với mô hình kim tự tháp phân từng cấp đệ tử trưởng lão nội môn của các phái khác, việc thu nhận đệ tử của Vô Cực đạo quán đơn giản vô cùng, một sư phụ có vài đệ tử, người giỏi nhất sẽ kế thừa y bát, lên đài Thí Kiếm thi đấu. Trên bảng Thí Kiếm của đạo quán, thông qua tôi luyện không ngừng và thứ hạng thay đổi liên tục, một trăm linh tám vị đầu bảng chính là Vô Cực Tử – ‘thanh kiếm’ lợi hại nhất của Vô Cực đạo quán.

Khi cảm thấy số mình sắp tận, Vô Cực Tử đời trước sẽ truyền tu vi cả đời cho người kế nhiệm. Ở đạo quán, địa vị của Vô Cực Tử rất cao, là thủ lĩnh của Vô Cực Tử, Hạc Kinh Hàn gần như có thể hiệu lệnh già nửa số đệ tử nội môn nơi đây.

Vào thời bình, Vô Cực Tử là một thanh kiếm được dùi mài chậm rãi, còn ở loạn thế, họ chính là thanh kiếm thủ hộ cũng như đồ sát, bảo vệ chính nghĩa, diệt trừ tà ma, cho đến khi tên tà ma cuối cùng ngã xuống, hoặc vị Vô Cực Tử cuối cùng chết đi.

Trên đường Giang Trừng nghe Hạc Kinh Hàn giới thiệu sơ qua, vừa tự hào vừa lo lắng cho em trai.

Song mọi tâm tình phức tạp đều hoá thành nỗi chấn động không lời sau khi đến Vô Cực đạo quán. Khối kiến trúc kỳ vỹ trước mặt thu hút trọn ánh mắt của Giang Trừng, cảnh sắc nơi đây bỗng chốc khiến người ta phải thốt lên rằng ‘con người thật nhỏ bé biết bao’.

Khác với sân viện bao la của các môn phái khác, Vô Cực đạo quán toạ lạc tại đỉnh một ngọn núi vừa cao vừa dốc, nom như một thanh kiếm khổng lồ.

Núi cao vạn trượng đâm xuyên đất trời, mũi kiếm biến mất giữa tầng mây. Mái hiên son đỏ bắt đầu xuất hiện từ thân kiếm, càng lên cao càng nhiều, tạo nên một toà thành kỳ lạ, điểm xuyết bởi cây xanh và suối con. Toà thành trên ngọn kiếm khổng lồ vừa tản mác kiếm khí sặc mùi uy hiếp cùng nguy hiểm, vừa đẹp đến nao lòng.

Sau núi là vầng trăng khuyết khổng lồ, đây không phải mặt trăng thật mà là trận pháp bảo hộ Vô Cực đạo quán, tên là Nguyệt Hành Kiếm. Ánh bạc trong veo, đường cong lả lướt, ôm trọn đỉnh núi vào lòng. Vầng trăng khuyết này từ tốn xoay quanh đỉnh núi theo quy luật riêng, vân mây chuyển động bên trên chính là kiếm khí nguy hiểm, sẽ giết sạch những kẻ có ý đồ tấn công đạo quán.

Một hung khí khổng lồ thế kia lại có lúc cực kỳ đẹp đẽ. Nếu may mắn, người ta có thể chiêm ngưỡng một trong những kỳ quan đẹp nhất cõi tu chân, Trăng đôi giữa trời.

Vào một thời khắc đặc biệt nào đấy, vầng trăng khuyết thật sẽ di chuyển đến một vị trí thích hợp, còn Nguyệt Hành Kiếm khéo sao lại dịch chuyển đến vị trí đối diện, đứng dưới đại điện Vô Cực đạo quán trông lên sẽ thấy chúng hợp thành một vầng trăng tròn đều, như vừa tay hái.

Ánh trăng và Nguyệt Hành Kiếm soi tỏ lẫn nhau phủ lên cung điện đạo quán, ẩn hiện tựa tiên cung, cảnh sắc đẹp tươi, trông như cung trăng Lãnh Dạ trong thần thoại.

Tiếc rằng hiếm ai được thấy. Lúc lịch luyện thi thoảng lại nghe người ta bàn tán, Giang Trừng còn định khi nào gặp dịp sẽ đến thăm quan, ngờ đâu sớm thế đã có cơ hội, chỉ không biết mình có may đến độ được mục kích “Trăng đôi giữa trời” không thôi.

Giang Trừng đứng trên kiếm, ngẩng đầu nhìn ngọn núi không thấy bến bờ kia, sự ngưỡng mộ ngập tràn đáy mắt, “Đúng là vừa đẹp vừa khí thế, ngọn núi trông như thanh kiếm khổng lồ ấy là tác phẩm của thiên nhiên ư?”

Hạc Kinh Hàn lặng lẽ đứng bên, chờ cô ngắm xong, nghe hỏi bèn đáp: “Đấy chính là một thanh kiếm thật, nghe bảo là của tổ sư đời đầu, còn Nguyệt Hành Kiếm – trận pháp thủ hộ hình vầng trăng khuyết kia là kiếm của đạo lữ của vị tổ sư ấy. Sau khi họ qua đời, hai thanh kiếm hoá khổng lồ, trở thành đạo căn của Vô Cực đạo quán.”

Giang Trừng lại phải thốt lên: “Đúng là lợi hại.”

Hạc Kinh Hàn từ nhỏ đã sống ở đây không hiểu nỗi kinh ngạc của chị mình, song hắn vẫn lẳng lặng đứng chờ cô ngắm đến tận hứng thì thôi.

Cơ mà Giang Trừng cũng chẳng tăm tia được bao lâu, bởi thoắt cái cô đã trông thấy vài luồng sáng bay từ Vô Cực đạo quán về phía mình.